Dự định từ tháng 7.2009, Dự án Luật Thuế Nhà đất sẽ được Bộ Tài chính trình Chính phủ và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào tháng 9.2009, trình Quốc hội cho quan điểm vào tháng 10.2009 và trình Quốc hội chuẩn y tại kỳ họp vào tháng 5.2010. Theo các chuyên gia soạn thảo, Luật Thuế Nhà đất lần này sẽ có quy định về đánh thuế lũy tiến, được xem là dụng cụ quản lý hữu hiệu đối với nạn đầu cơ nhà đất. Nhịp Cầu Đầu Tư đã có cuộc đàm đạo với Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, người đề xuất việc đưa thuế lũy tiến nhà đất vào thực thi, về vấn đề này. Thưa ông, trước hết nhiều người muốn hiểu ý nghĩa của việc đánh thuế lũy tiến đối với nhà đất?
Giáo sư Đặng Hùng Võ:Thuế này nhằm đánh vào giới đầu cơ, những người thu nhặt nhà đất để tạo ra khan hiếm và bán giá cao và những người có nhiều nhà, đất nhưng không dùng. Vì không thể cấm đầu cơ nên chúng ta phải dùng thuế lũy tiến để hạn chế, điều tiết việc đầu cơ chỉ như là một yếu tố kích thích thị trường nhà đất. Ví dụ, theo số liệu điều tra nhân khẩu được Bộ Công an ban bố tháng 11.2008, tại Hà Nội có hơn 8.000 căn hộ chung cư mới xây bỏ không, trong khi nhiều người khác thì không có nhà để ở hay chẳng thể mua vì giá nhà đất quá cao. Nói về nạn đầu cơ nhà đất, nhiều ý kiến cho rằng nó là thủ phạm gây ra bong bóng giá nhà đất. Ông có đồng ý với cách đánh giá đó không?
Giáo sư Đặng Hùng Võ:Vâng, đây là nguyên do chính làm cho giá bất động sản tăng cao. Vì cứ còn có người mua nhà để đấy, họ găm giữ nhà khiến cung - cầu bất cân đối, thì bất động sản sẽ còn tăng giá. Nạn đầu cơ còn dẫn đến tình trạng những người có tiền kiệm ước không đầu tư vào sinh sản kinh dinh cơ mà đầu tư vào bất động sản để cất trữ. Nếu số tiền kiệm ước ấy được đưa vào sản xuất, làm ra của cải vật chất, vững chắc sẽ tạo ra hiệu quả cao cho nền kinh tế hơn là đầu cơ vào nhà đất. Nạn đầu cơ cũng là duyên cớ gây ra bong bóng giá nhà đất, bởi vào thời khắc thị trường lên cơn sốt, chỉ 1 ngày giá bất động sản có thể tăng 10% thì 10% ấy không có lượng vật chất nào kèm theo cả. Một lượng tiền tăng lên mà không có lượng hàng hóa kèm theo, đó là bong bóng. Và theo tôi, lúc này vận dụng thuế lũy tiến là rất hạp. Nhà đầu tư chẳng thể ghim đất ghim nhà lại mà phải đem bán, nếu không họ sẽ phải chịu thuế lũy tiến cao đến mức không thể chịu đựng nổi. Mức thuế lũy tiến sẽ được tính như thế nào, thưa ông?
Giáo sư Đặng Hùng Võ:Trên thế giới mỗi nước có cách đánh thuế nhà đất khác nhau, có thể tính theo diện tích hoặc theo giá trị. Nhìn chung, họ luôn cân nhắc mức thuế sàn đối với các trường hợp dùng đất phổ cập. Sau đó, họ sẽ đề ra mức lũy tiến đối với các trường hợp không khuyến khích, có loại lũy tiến theo diện tích, có loại theo giá trị hoặc theo thời gian sử dụng. Ở Việt Nam hiện giờ, một người có 1 căn hộ 50 m2 để ở và một anh đầu cơ 10 căn hộ cùng chịu mức thuế đất như nhau thì anh có 10 căn hộ cứ thư thả găm giữ, đợi khi nào được giá thì bán. Lẽ ra thuế suất đánh vào ngôi nhà thứ hai phải gấp 4, 5 lần thuế của căn nhà thứ nhất. Nhà thứ ba thuế gấp 10, 20 lần; nhà thứ tư phải gấp hàng trăm lần. Kinh nghiệm này các nước Mỹ, Canada, Úc đã làm. Thuế đất ở cũng như bất kỳ loại đất nào đều bị tính thuế rất cao. Nếu sử dụng bất hợp lý anh buộc phải trả lại cho người khác sử dụng vì không chịu nổi tiền thuế. Thí dụ, có người sang Mỹ thấy một lâu đài giá phải chăng nên muốn mua, nhưng khi tính thuế phải nộp lại không chịu nổi. Vì anh đi làm thuê chức, mức thu nhập thường nhật thì chỉ nên mua nhà thường thường thôi, chứ anh đừng ở lâu đài. Ở lâu đài thì phải chịu tổn phí cao, hay muốn ở rộng thì phải chịu thuế lũy tiến. Nhưng “nước lên thì bèo lên”, giới đầu cơ sẽ tính tiền thuế vào giá bán, nên giá nhà đất chưa chắc đã giảm?
Giáo sư Đặng Hùng Võ:Mức thuế sẽ cao dần nên giới đầu cơ cũng khó mà giữ lâu, phải bán ra. Tôi cho rằng, với mức thu nhập của người Việt Nam hiện nay, chỉ cần định mức thuế 2%/năm tính trên giá trị bất động sản là đã ít người chịu nổi. Tỉ dụ, căn nhà ở trọng tâm đô thị có giá 1 triệu USD thì mỗi năm sẽ phải đóng 20.000 USD tiền thuế. Nhiều quan điểm cho rằng thuế lũy tiến cũng không hiệu quả, vì nó sẽ lại sinh ra nhiều biến tướng. Ông nghĩ sao về điều này?
Giáo sư Đặng Hùng Võ:hẳn nhiên, không giải pháp nào có thể chữa được bách bệnh. Nhưng chúng ta phải bắt đầu thì mới đi đến đích được, trên đường đi nảy chỗ nào ta sẽ xử lý chỗ đó. Chẳng hạn, khi chính sách thuế này được đưa vào ứng dụng, ban đầu người đầu cơ có thể cho người thân, người quen hay thuê người đứng tên hộ. Sờ soạng những biến tướng này đều có thể xảy ra. Tuy nhiên, xã hội sẽ tự điều chỉnh được những điều này. Khi chọn giải pháp cho người khác đứng tên, người đầu cơ cũng phải chịu nhiều rủi ro, như bị cướp đoạt tài sản chả hạn. Nếu có một chính sách thuế đúng đắn, hợp lý, vững chắc họ sẽ lựa chọn giải pháp an toàn hơn. Đừng nghĩ rằng những người đầu cơ sẽ dùng được cách này hay cách kia được mãi. Các nước phát triển khi thực hành thuế lũy tiến, họ cũng phải sang trọng thời đoạn này. Lúc đầu nhiều người còn đăng ký bằng tên giả, nhưng dần dần mọi việc cũng vào guồng. Có thể lấy Ví dụ về việc dùng phần mềm không có bản quyền. Đối với người Việt Nam, dùng phần mềm lậu là bình thường, nhưng phỏng một người Mỹ xem họ có dùng phần mềm lậu không? Không! Vì họ cảm thấy không yên tâm, họ vẫn muốn dùng phần mềm có bản quyền, mua bằng tiền tài họ cho nó tử tế. Đó là sự khác biệt về nhận thức của người tiêu dùng Mỹ sau một thời gian dài được khép vào khuôn khổ của pháp luật. Việt Nam cũng cần phải có một thời gian nhất thiết mới đạt được tư duy thật thà. |