U tư, trong đó chỉ có 1 dự án nước ngoài. Con số này thấp hơn nhiều so với 40 dự án của cả năm 2008. Ngoài nỗi lo suy giảm kinh tế, các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp còn lo ngại, Nghị định 142/2005/NĐ-CP của Chính phủ và việc tháo dỡ những chính sách ưu đãi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu cũng như khả năng cuốn đầu tư của họ. Qua rồi thời hoàng kim Cùng chung số phận với các khu công nghiệp của Bà Rịa - Vũng Tàu là các khu công nghiệp ở Đồng Nai. Những khu này chỉ vấn được 6 dự án đầu tư (5 dự án nước ngoài) trong 6 tháng đầu năm, bằng 6,29% cùng kỳ năm ngoái. Bình Dương, tỉnh ngay dẫn đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh trong những năm gần đây cũng “thấm đòn”. Ông Phạm Văn Sơn Khanh, Phó trưởng Ban Quản lý Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP), cho biết, suy giảm kinh tế là yếu tố chính tác động đến quyết định của nhà đầu tư. Trong nửa đầu năm nay, cả VSIP I và VSIP II chỉ thu hút được 3 dự án đầu tư mới. Bên cạnh đó, một nỗi lo “dài hơi” của các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp là kể từ đầu năm 2009, hạng mục này sẽ không còn nằm trong danh sách 34 loại hình dự án khuyến khích đầu tư và nhận ưu đãi (hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong vận hạn 15 năm kể từ khi đi vào hoạt động, thay vì đóng 28%). Mặt khác, ông Nguyễn thái hoà, Phó giám đốc điều hành Công ty Tín Nghĩa (chủ đầu tư Khu công nghiệp Nhơn Trạch 3), cho biết, Nghị định 142/2005/NĐ-CP (được ứng dụng từ ngày 1.1.2006) khiến doanh nghiệp khó chủ động phương án kinh dinh. Theo ông, trước đây, giá thuê đất mà các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp thuê lại của quốc gia chỉ bằng 0,5% giá trị đất tính theo mục đích sử dụng và giá này sẽ thay đổi sau 5 năm với mức khống chế 15% (mức giá sau không được cao hơn 15% so với trước đó). Tuy nhiên, với quy định mới theo Nghị Định 142 thì sau 5 năm, doanh nghiệp sẽ ký lại hiệp đồng thuê đất với mức giá được điều chỉnh theo giá thị trường. Điều này sẽ khiến doanh nghiệp lúng túng trong cách tính tiền cho thuê đất với các nhà đầu tư hoạt động sinh sản kinh doanh trong khu công nghiệp, vì đa phần các hiệp đồng đều ký 1 lần cho cả vòng đời của dự án. Về vấn đề này, ông Nguyễn Thành Hóa, Phòng Đầu tư Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Phát triển thành phố và Khu công nghiệp IDICO, cho rằng, đa phần khu công nghiệp trên cả nước đều hình thành trước khi Nghị Định 142 có hiệu lực. Nếu ngày nay, doanh nghiệp phải ký hợp đồng thuê đất mới với Nhà nước thì càng về sau, giá đất càng cao và doanh nghiệp kinh dinh hạ tầng sẽ phải bù tiền vào. Ông Đỗ Hoài Thu, Phó Giám đốc Khu công nghiệp Tam Phước (Đồng Nai), cho biết, một cái khó khác là đôi khi trong cùng một khu công nghiệp lại tồn tại hai chính sách. Cụ thể, khi Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấp giấy chứng thực cho các nhà đầu tư thì có quy định giá thuê đất khống chế ở mức 15% nhưng hiệp đồng nhà đầu tư ký với công ty hạ tầng thì không vận dụng mức này (vì khi ký giao kèo thuê đất với Nhà nước, công ty hạ tầng không được áp dụng mức khống chế 15%). Điều này đang gây ra nhiều bức xúc cho cả nhà đầu tư lẫn doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp. Đổi thay phải có lộ trình Một số ý kiến cho rằng, sở dĩ có sự điều chỉnh về giá cũng như phương thức tính tiền thuê đất là do trước đây các doanh nghiệp hạ tầng khu công nghiệp đã kiến nghị lên quốc gia yêu cầu thay đổi, nhưng khi Nhà nước điều chỉnh thì họ lại phản ứng. Ông Thu, Khu công nghiệp Tam Phước, cho rằng, đó chỉ là thiểu số, trong khi phần đông doanh nghiệp đều không nhất trí với Nghị Định 142. Ông Bình, Công ty Tín Nghĩa, cho biết, trước năm 2006, giá thuê đất tại các khu công nghiệp do Tín Nghĩa đầu tư ở mức 500 đồng/m2/năm nhưng hiện nay là 1.400 đồng/m2/năm, tăng từ 2-3 lần; thậm chí, có nơi tăng tới 5 lần tùy vào vị trí của khu công nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp hạ tầng sẽ gặp phải 10 lần đổi thay giá thuê đất (nếu vòng đời dự án là 50 năm). Nếu trước đây, phí phát sinh trong các khu công nghiệp chỉ ở mức 3-4 tỉ đồng thì bây chừ con số này là 5-7 tỉ đồng. Tuy nhiên, đại diện Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất TP.HCM cho rằng, hiện tại, chỉ có 1-2 khu công nghiệp gặp vướng mắc, đặc biệt là các khu công nghiệp được đưa vào sử dụng sau năm 2006, vì không biết giá đất sẽ tăng bao lăm để tính tiền thuê đất với nhà đầu tư. Còn hồ hết các khu công nghiệp trước năm 2006 đều được áp dụng mức khống chế 15% trong thời kì thuê đất của quốc gia. “Mặc dù giá đất hiện đã tăng hơn trước 1,8 lần nhưng giá mà các doanh nghiệp hạ tầng thuê lại chỉ bằng 0,25% giá trị đất tính theo mục đích sử dụng, một mức tương đối thấp”, vị này cho biết. Đối với các doanh nghiệp hạ tầng ở Đồng Nai, cũng chưa thể kết luận là lỗi do ai. Tuy nhiên, theo ông Thu, nhiều doanh nghiệp ký hiệp đồng thuê đất trước năm 2006 được áp dụng mức khống chế 15% nhưng sau khi cổ phần hóa lại không ghi điều này, nên ngày nay đều “bị” tính tiền thuê đất theo Nghị định 142. Còn việc bãi bỏ các chế độ ưu đãi về thuế cũng như tiền thuê đất vào thời điểm này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp, vì chẳng thể khi cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các “vùng sâu” thì ứng dụng chính sách ưu đãi, khi vùng đó đã phát triển thì bãi bỏ. Nếu không có doanh nghiệp đi tiên phong thì liệu những địa phương như thế phải mất bao lâu mới “đổi đời”? Một vấn đề khác gây bức xúc cho nhiều doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp là những chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư nội và nhà đầu tư ngoại. Ngày nay, các nhà đầu tư nước ngoài được quyền trả tiền thuê đất một lần theo giá thị trường tại thời điểm đó, trong khi nhà đầu tư trong nước thì không. Tuy nhiên, đây là điều khó tránh khỏi trong quá trình cuốn đầu tư nước ngoài. Trung Quốc là một thí dụ. Phải sang trọng gần 20 năm, những chính sách ưu đãi của nhà nước này cho nhà đầu tư nước ngoài mới được tháo bỏ. Theo ông Thu, việc thay đổi chính sách là điều phải làm, nhất là khi Việt Nam đã nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nhưng mọi thay đổi đều cần có lịch trình và có thông báo trước để doanh nghiệp điều chỉnh phương án kinh dinh cho thích hợp. Để tháo gỡ gút mắc bây giờ cho doanh nghiệp, ông Thu cho rằng, nên đổi thay phương thức ký hợp đồng với các nhà đầu tư. Theo đó, tiền thuê đất sẽ được tính riêng với phí hạ tầng và phí quản lý. |