Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

3% người giúp cập nhật việc gia đình bị lạm dụng tình dục

47/100 người GVGĐ có hoàn cảnh “đặc biệt”

bữa qua (10-8), trọng tâm Nghiên cứu hỗ trợ gia đình và phát triển cộng đồng (thuộc Trung ương Hội Nghiên cứu khoa học Đông Nam Á – Việt Nam) đã tổ chức hội thảo công bố kết quả nghiên cứu “Một số nhân tố ảnh hưởng đến lao động giúp việc gia đình (GVGĐ) trên địa bàn Hà Nội”. Kết quả nghiên cứu cho thấy, qui định pháp luật về GVGĐ và quản lý cần lao GVGĐ còn nhiều “lỗ hổng”, cần hoàn thiện sớm để khắc phục nhiều bất cập đang tồn tại.

Bà Trịnh Thị Quang, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, nhóm nghiên cứu đã phát phiếu điều tra, phỏng vấn và tổ chức trao đổi nhóm, tọa đàm với 100 phụ nữ GVGĐ đang sống cùng gia đình chủ trên địa bàn hai quận Tây Hồ và Hoàng Mai, Hà Nội. Kết quả cho thấy, đa số người GVGĐ trong độ tuổi từ 36 - 55, sống ở nông thôn, và 74% trước đây làm nghề nông với phần nhiều người GVGĐ tốt nghiệp THCS (chỉ có 1 người tốt nghiệp CĐ). 11% số đàn bà được hỏi cho biết đã tìm việc chuẩn y trọng tâm giới thiệu việc làm, còn lại 89% duyệt mối quan hệ bạn tầng lớp, những người GVGĐ giới thiệu cho nhau… Đáng quan tâm, 47/100 người GVGĐ cho biết có tình cảnh đặc biệt như ly hôn, ly thân, góa bụa… Và đây là căn nguyên khiến họ muốn có nơi ở, điều kiện sống khác hơn.

Về thời gian làm việc, kết quả khảo sát cho thấy, có 17% làm GVGĐ trong thời gian dưới 6 tháng, 17% từ 7 tháng đến 2 năm, 44% từ 2 - 4 năm, 27% từ 5 - 10 năm và có 5% làm việc trên 10 năm. 100% số nữ giới được hỏi cho biết họ phải làm tuốt các công việc trong gia đình như trông trẻ, đi chợ, nấu nướng, giặt giũ… với thời gian làm việc làng nhàng là gần 13 giờ/ngày. Tuy nhiên, những người GVGĐ cũng cho biết, làm GVGĐ an nhàn hơn và có thu nhập cao hơn, ổn định kinh tế gia đình. Tính nhàng nhàng, thu nhập của người GVGĐ trên địa bàn Hà Nội là 3,1 triệu đồng/tháng, không bao gồm phí ăn, ở.


Chăm sóc người bệnh đòi hỏi nhiều kỹ năng nhưng đa số người GVGĐ lại không được đào tạo. Ảnh: TL


Quản lý lỏng lẻo!

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nghề GVGĐ đã đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung, giúp cải thiện sự đồng đẳng giới trong cắt cử cần lao gia đình, tạo việc làm, tạo thu nhập cho một bộ phận những phụ nữ nghèo và thiếu việc làm trong từng lớp. Bên cạnh đó, một hệ lụy của nghề này là người giúp việc có thể bị vi tù nhân phẩm, lạm dụng, sa vào bẫy tù. Song song, những người vợ, người mẹ xa gia đình để đi làm GVGĐ cũng làm suy yếu quan hệ gia đình của họ do không làm tròn chức năng người vợ, người mẹ. Về mặt từng lớp, nghề GVGĐ chưa được tầng lớp quý trọng.

Thực tiễn cũng cho thấy, việc quản lý lao động GVGĐ trên địa bàn dân cư nơi đến còn mang tính tự phát và chưa có qui định cụ thể, sự kiểm soát hành vi của từng lớp với người giúp việc nhập cư chỉ ưng chuẩn mạng xã hội. Thường khi nào “có chuyện” thì chính quyền mới biết, còn thường ngày cùng lắm là tổ trưởng tổ dân phố biết, nhưng không đầy đủ. Hiện, cũng chưa có qui định buộc các trọng điểm giới thiệu việc làm phải quản lý và chịu nghĩa vụ về người GVGĐ mà mình đã môi giới.

Phần nhiều người dùng cần lao mong muốn người GVGĐ đạt được 6 tiêu chuẩn: chân thực, có sức khỏe, sạch sẽ, tận tâm, có kỹ năng xử sự và có kỹ năng nghề. Tuy nhiên, phần đông người GVGĐ chưa được chuẩn bị kỹ năng và phẩm chất cho công việc. Thực tiễn đã xảy ra những câu chuyện xử sự “không thể tưởng tượng” được giữa người cần lao với chủ, và có cả vi phạm pháp luật. 41/100 trường hợp cho biết từng có dị đồng giữa chủ và người GVGĐ, phần đông các bất đồng được hai bên tự giải quyết, số phải đưa ra chính quyền không nhiều. Có 26% người GVGĐ từng gặp tình huống khó xử, trong đó 10% liên hệ đến bạo hành ý thức (đe dọa, xúc phạm), 3% bị lạm dụng dục tình.

Các con số trên cũng cho thấy, người GVGĐ còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cần lao, làm việc trong môi trường chưa được đảm bảo về mặt pháp lý. Quan hệ giữa chủ và người GVGĐ cũng theo cảm tính, chứ không có “chuẩn” nào, còn kỹ năng nghề của người GVGĐ so với tiêu chuẩn người GVGĐ của nước ngoài thì có khoảng cách lớn. Thực tế đã có người giúp việc tháo quạt máy bằng dao và làm hỏng, hoặc nhúng giày da vào nước và giặt. Thậm chí, bà Quang kể, có cả trường hợp một cô gái người Thái đi làm GVGĐ toàn ra ngoài sảnh nhà để tắm, với lý do “không quen” tắm trong phòng kín, hoặc có người coi sóc trẻ 2-3 tuổi toàn dạy trẻ những bài hát “người lớn”... Đáng nói, các trung tâm giới thiệu việc làm gần như thường quan hoài đến việc đào tạo kỹ năng nghề cho người GVGĐ. Hiện Hà Nội có gần 300 trọng tâm giới thiệu việc làm, nhưng số các trọng điểm có đào tạo kỹ năng cho GVGĐ chưa đến 1%!

Cần hoàn thiện các qui định pháp luật về GVGĐ!

Việc gắn bó giữa người giúp việc với gia chủ phụ thuộc vào sự “thích” của người lao động, chứ không có ràng buộc chặt đẹp. Cho nên, việc tạo lập mối quan hệ bền vững lâu dài vẫn là thách thức với cả hai phía. Khi muốn giữ chân người giúp việc, chủ nhà thường phải tăng lương, hoặc thưởng thêm. Hiện, 90% quan hệ lao động giữa chủ và người lao động có thỏa thuận bằng miệng, 3% thỏa thuận bằng văn bản, còn 7% không có thỏa thuận. Trong 90% thỏa thuận bằng miệng thì đẵn thỏa thuận về lương, đặc biệt gần như không ai có thỏa thuận về thưởng.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động, Bộ LĐ-TB&XH cho biết, GVGĐ chưa có tên trong danh mục nghề quốc gia, mà mới là một nghề đặc thù, mang tính tự phát trong tầng lớp. Trong khi đó, nhu cầu cần người GVGĐ ngày một tăng. Ông Dũng cũng cho rằng, nghề GVGĐ lại đan xen giữa quan hệ gia đình và quan hệ xã hội nên khá phức tạp, việc luật hóa không đơn giản.

Thí dụ, nếu đề nghị phải ký giao kèo cần lao với người GVGĐ, nhưng giao kèo giữa hai bên bằng miệng hay văn bản, ngắn hay dài hạn… thì không có ai giám sát. Ngay cả Bộ LĐ-TB&XH cũng không có đơn vị chuyên trách quản lý về đối tượng cần lao này, mà đan xen giữa nhiều Vụ, Cục. Bởi vậy, cần hoàn thiện các qui định luật pháp về nghề GVGĐ và quản lý nghề này để đáp ứng được yêu cầu thực tại, cũng như tạo “vị thế” cho nghề GVGĐ bởi hiện giờ, tuy thu nhập bình quân của lao động GVGĐ là cao so với mặt bằng chung nhưng nhiều người vẫn có quan niệm đây là nghề “thấp hèn”, “cùng đinh” mới đi làm giúp việc!

Nhóm nghiên cứu cũng khuyến nghị, Nhà nước cần có định hướng về quản lý và phát triển lao động GVGĐ. Cụ thể, hoàn thiện các qui định luật pháp về cần lao GVGD, có kế hoạch, lịch trình chuyên nghiệp thị trường lao động GVGĐ và ban hành các qui định cụ thể về bổn phận theo dõi, giám sát, cung cấp dịch vụ xã hội của các cơ quan quản lý quốc gia về cần lao các cấp, các tổ chức tầng lớp. Đồng thời, phân cấp quản lý việc sử dụng cần lao GVGĐ từ cấp cơ sở, xác định cơ quan quản lý việc đào tạo tuyển dụng người GVGĐ, tăng cường rà việc tuân thủ luật pháp về lao động GVGĐ và khuyến khích người lao động tham dự các tổ chức, đoàn thể dân chúng tại địa phương làm việc.

Đối với các địa phương, cần tổ chức tham vấn tại các trọng điểm tổ chức cộng đồng cho người GVGĐ, sử dụng đường dây nóng để thông báo, tư vấn miễn phí các trường hợp cấp thiết; xây dựng bộ chỉ số để đánh giá tiêu chuẩn người cần lao GVGĐ và chiến lược đào tạo nhân công cho nghề GVGĐ.

Theo Điều 179 Bộ luật cần lao, người cần lao GVGĐ là người làm bộc trực các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình; Các công việc trong gia đình bao gồm nội trợ, quản gia, trông nom trẻ/người già/người bệnh, tài xế, làm vườn và các công việc khác nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.


Nhiều ý kiến cho rằng, thu nhập của người GVGĐ là cao so với mặt bằng chung. Tiền công làng nhàng người GVGĐ thực lĩnh 3,1 triệu đồng/tháng, nhưng chưa bao gồm hoài ăn, ở. Trong khi đó, theo bà Trịnh Thị Quang, tiền thuê nhà ở Hà Nội ở mức “khổ sở” cũng phải tốn 1 triệu đồng/người/tháng, tiền xài cho ăn uống khoảng 1,5 triệu đồng và các chi phí khác khoảng 500 nghìn đồng. Vị chi, mỗi người phải chi không dưới 3 triệu đồng/tháng mới sống được Hà Nội. Như vậy, tổng thu nhập của người GVGĐ phải là 6 triệu đồng/tháng.



Phương Thảo