Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Khi quyền lực chính trị nhường chỗ cho quyền lực quân các sự.

Mục tiêu chính trị của chính bản thân chiến tranh không chỉ đơn thuần là chinh phục lành thổ và hủy diệt quân đội quân thù, mà là một sự đổi thay trong suy nghĩ của kẻ thù – làm cho họ phải tuân theo ý chí của người thắng lợi

Khi quyền lực chính trị nhường chỗ cho quyền lực quân sự

[3] Do vậy, nói rằng A có hoặc muốn có quyền lực chính trị đối với B luôn luôn có nghĩa rằng A có thể, hoặc muốn có thể chi phối những hành động nhất thiết của B phê chuẩn ảnh hưởng đối với suy nghĩ của B. Lãnh đạo của một Đảng phái có quyền lực chính trị chừng nào mà ông ta có khả năng tạo ra khuôn mẫu hành động cho các thành viên theo ý muốn của mình.

Tính không an toàn và không mang lại lợi nhuận của một khoản cho vay với nước ngoài có thể trở thành một luận điểm chống lại nó nếu chỉ xét đến các cơ sở tài chính đơn thuần. Do đó, bất cứ khi nào những chính sách kinh tế, tài chính, bờ cõi hoặc quân sự được xem xét trong đời sống quốc tế, điều cần thiết là phải phân biệt rõ giữa các đối sách kinh tế được thực hành vì đích kinh tế thuần tuý và những chính sách kinh tế được sử dụng như các dụng cụ của chính sách chính trị, có tức là một chính sách mà mục đích kinh tế của nó chỉ là công cụ để đạt được mục tiêu kiểm soát các chính sách của một quốc gia khác.

Họ có thể hy vọng rằng những lý tưởng trên có thể thành hiện thực duyệt y chính nội lực của mình, qua sự can thiệp của Chúa trời, hoặc ưng chuẩn sự phát triển thiên nhiên của những vấn đề nhân sinh. Việc tiến hành bạo lực thể chất trên thực tế thay thế cho mối liên quan về tâm lý giữa hai tư duy con người –vốn là bản chất của quyền lực chính trị - bằng mối liên tưởng thể chất giữa hai con người, mà trong đó một bên đủ mạnh để chế ngự sự hoạt động của bên còn lại.

Đích chính trị của việc chuẩn bị quân sự dưới bất kì hình thức nà nhằm răn đe những quốc gia khác không dám tiến công bằng cách làm cho việc tấn công trở thành quá rủi ro không đáng để thực hành. Bất kể các mục đích vật chất của chính sách đối ngoại là gì, ví dụ như là việc chiếm hữu các nguồn vật liệu thô, kiểm soát các tuyến đường biển, hoặc đổi thay về mặt bờ cõi, chúng luôn luôn đòi hỏi sự kiểm soát hành động của đối tượng khác phê duyệt tác động lên suy nghĩ của họ.

Do đó một khái niệm quyền lực chính trị nếu muốn có ích cho việc tìm hiểu chính trị quốc tế phải được mở rộng hơn khái niệm được dùng trong khuôn khổ chính trị quốc gia.

Net  ------------------------------  chú giải:  [1] Khái niệm quyền lực chính trị là một trong những vấn đề khó khăn và gây nhiều tranh luận nhất của khoa học chính trị.

[2] Để biết thêm một vài quan điểm gợi mở về quyền lực trong quan hệ với chính trị quốc tế, xem Lionel Robbins, The Economic Causes of War (London: Jonathan Cape, 1939), p. Nói cách khác, đích chính trị của việc chuẩn bị quân sự là làm cho việc vận dụng sức mạnh quân sự trở thành không cần thiết bằng cách khiến các quân thù tiềm năng trường đoản cú ý định sử dụng vũ lực quân sự.

Một chính sách kinh tế dù không thể biện minh được chỉ bởi những nguyên tố kinh tế thuần tuý thì vẫn có thể được thực hiện nếu xét tới chính sách chính trị đang được theo đuổi. [3] Các tỉ dụ đưa ra trên còn chỉ rõ sự dị biệt trong quyền lực chính trị như một thực tế tầng lớp, như trong trường hợp của các nhà vận động chuồng xí, và quyền lực chính trị trong vai trò một thẩm quyền hợp pháp, ví dụ như thẩm quyền của Tổng Thống Mỹ.

Nó cho phép người thực thi quyền lực kiểm soát những hành động khăng khăng của người bị tác động ưng chuẩn ảnh hưởng mà người thực thi quyền lực gây nên đối với nhận thức của người bị tác động. Họ có thể xác định mục tiêu của mình trên giác độ lý tưởng về tôn giáo, triết học, kinh tế hoặc từng lớp. Nhưng luận điểm đó không còn hợp lý nếu khoản cho vay, bất kể thiếu khôn ngoan như thế nào trong con mắt của một người làm ngân hàng, là nhằm phục vụ những đích chính trị của nhà nước.

Sự răn đe bằng các hành vi bạo lực thể chất duyệt hình thức hoạt động của cảnh sát, việc tống giam, xử quyết hình, hoặc gây chiến…là một thành tố cố hữu của chính trị. Nhưng bất kể khi nào họ đấu tranh để đạt được những mục đích của mình ưng chuẩn dụng cụ chính trị quốc tế, họ phải thực hiện bằng đấu tranh quyền lực. Khi nhắc đến quyền lực chính trị của Mỹ tại Trung Mỹ, chúng ta nghĩ tới sự hiệp trong hành động của chính quyền các quốc gia này đối với ý chí, ước muốn của chính phủ Mỹ.

Chính sách xuất khẩu của Thụy Sĩ đối với Mỹ được xếp vào nhóm trước hết. Tuy nhiên, trong trường hợp này, điều quyến định vấn đề không phải là các cân nhắc về kinh tế và tài chính đơn thuần mà là sự so sánh những thay đổi về chính trị và những rủi ro can hệ, tức là những tác động khả dĩ của những chính sách này đối với quyền lực quốc tế của quốc gia. Chúng ta cũng có thể nói tới quyền lực chính trị của một nhà tư bản công nghiệp, lãnh đạo nghiệp đoàn hay một người vận động hành lang nếu mong muốn của anh ta có ảnh hưởng đến hành động của những người khác.

Vì lý do này mà khi việc thực thi bạo lực thể chất diễn ra, nhân tố tâm lý của quyền lực chính trị đã bị đánh mất, và vì thế chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa quyền lực quân sự và quyền lực chính trị. Nước Anh có được vị trí ưu thế đối với chính trị thế giới trong suốt thế kỉ XIX là nhờ vào những chính sách được tính toán nhằm làm cho bản thân nó hoặc là quá hiểm (vì Vương quốc Anh quá mạnh) hoặc khiến các nhà nước khác không muốn chống lại nó (vì sức mạnh của nó được dùng một cách chừng đỗi).

Những dụng cụ được sử dụng trong chính trị nhà nước có giới eo hẹp hơn nhiều so với những công cụ được sử dụng trong chính trị quốc tế. Khi đề cập đến khái niệm quyền lực, chúng ta muốn nhắc đến việc chi phối suy nghĩ và hành động của người này đối với người khác. Liệu nó có lợi về tài chính hay kinh tế hay không? Việc chiếm hữu cương vực có tác động như thế nào đối với dân cư và nền kinh tế nước chiếm hữu? Hệ quả nào xảy ra đối với hệ thống giáo dục, dân số và nền chính trị trong nước khi có một sự thay đổi trong chính sách quân sự? Các quyết định liên hệ đến những chính sách đó được đưa ra hoàn toàn bằng các cân nhắc nội tại như vậy.

Từ những cứ đó, các chính sách trên có thể bị bác. Một chính sách kinh tế, chính trị, bờ cõi hoặc quân sự được hoạch định bởi chính lợi ích của nó lại cần được đánh giá theo những tiêu chí của riêng nó. Những chiến binh Thập Tự Chinh muốn phóng thích các vùng đất Thánh khỏi sự cai trị của những kẻ ngoại đạo; Woodrow Wilson muốn thế giới an toàn cho chế độ dân chủ; Đảng quốc gia xã hội muốn biến Đông Âu thành thuộc địa của Đức nhằm chế ngự châu Âu và sau đó cai trị thế giới.

Khi nói đến quyền lực chính trị, chúng ta nhắm tới những mối quan hệ của sự chi phối lẫn nhau giữa những người nắm giữ quyền lực công và giữa họ với công chúng nói chung. Nếu xảy ra trong chiến tranh, nó biểu thị cho việc thay thế quyền lực chính trị bằng quyền lực quân sự.

Khi bạo lực xảy ra, nó biểu lộ cho việc quyền lực chính trị bị trường đoản cú nhường chỗ cho quyền lực quân sự hay mang tính chất quân sự.

Sự phân biệt này có tầm quan yếu rất lớn trong thực tại, và nếu không phân biệt được chúng sẽ dẫn đến nhiều sự bối rối trong chính sách lẫn công luận. Kì 2: Sự suy giảm về quyền lực chính trị    Biên dịch:  Võ Hoàng Phương Nhung  ; Hiệu đính:  Lê Hồng Hiệp   Bài được đăng lại từ Nghiencuuquocte. Bất kể mục đích rút cục của chính trị quốc tế là gì, quyền lực luôn luôn là mục đích tức thời.

Giá trị của bất cứ khái niệm cụ thể nào đều sẽ được quyết định bởi chính khả năng của nó trong việc giải thích tối đa các hiện tượng mà thường ngày được xem là nằm trong một khuôn khổ khăng khăng của hoạt động chính trị.

Chính sách kinh tế của Liên Xô đối với các nhà nước trong khu vực Đông và Đông Nam Âu lại được xếp vào nhóm thứ hai.

Tuy nhiên, quyền lực chính trị phải được phân biệt rõ ràng với vũ lực theo nghĩa là việc thực thi bạo lực thể chất trên thực tiễn. Cố nhiên, cũng có thể rằng các tổn thất về mặt kinh tế và tài chính can dự đến các chính sách như vậy có thể làm suy yếu vị thế nhà nước trên chính trường quốc tế tới một mức độ lớn hơn cả những ích chính trị được đợi mong.

Quyền lực chính trị là một mối quan hệ về tâm lý giữa những người thực thi quyền lực với những người bị tác động. Tuy nhiên, khi mục tiêu của những chính sách này là nhằm gia tăng quyền lực chính trị của một quốc gia đối với các quốc gia khác thì những chính sách này và mục đích của chúng phải được đánh giá cốt trên bình diện liệu các chính sách đó đóng góp ra sao cho quyền lực nhà nước.

[2] Khi đề cập đến khái niệm quyền lực, chúng ta cần hiểu rằng chúng ta không phải đang nhắc đến thứ sức mạnh thiên nhiên của con người, cũng không phải là sức mạnh của anh ta đối với các công cụ nghệ thuật như tiếng nói, biểu đạt, âm thanh hay màu sắc, cũng không phải sức mạnh đối với các công cụ sản xuất hay tiêu dùng, và cũng không phải sức mạnh của anh ta đối với chính bản thân mình theo nghĩa là khả năng kiểm soát bản thân.

Cả Tổng thống Mỹ và những người vận động hố xí đều thực hành quyền lực, cho dù có sự khác biệt trong nguồn lực và bản tính của quyền lực đó. Mỹ áp đặt quyền lực chính trị của mình lên Puerto Rico chừng nào mà những đạo luật của Mỹ vẫn được tuân bởi những công dân của hòn đảo này.

Chính trị gia và các dân tộc có thể rốt cuộc muốn ngần tự do, an ninh, sự thịnh vượng, hay chính bản thân quyền lực. Bởi họ chọn con đường quyền lực để đạt được các mục đích này, họ trở nên những diễn viên trên sân khấu chính trị quốc tế.

Đặc biệt trong chính trị quốc tế, sức mạnh vũ trang với nhân cách là một mối đe dọa hoặc khả năng tiềm ẩn là một trong những nguyên tố vật chất quan yếu nhất cấu thành nên quyền lực chính trị của một nhà nước. 63. Quyền lực chính trị là gì?[1] Chính trị quốc tế, giống như mọi loại chính trị khác, là một cuộc tranh giành quyền lực.

Tương tự như vậy đối với nhiều chính sách của Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh và châu Âu. Tổng thống Mỹ là một ví dụ, thực thi quyền lực chính trị của mình đối với nhánh hành pháp của chính phủ miễn sao các mệnh lệnh của Tổng thống được các thành viên trong nhánh tuân theo. Biên giới sông Rhine, một đối tượng suốt hàng thế kỷ trong chính sách đối ngoại Pháp, liên quan đến mục tiêu chính trị là phá hủy tham vọng của Đức trong việc tấn công Pháp, bằng việc khiến Đức gặp khó khăn hoặc không thể làm được việc đó.

Ảnh hưởng đó có thể tồn tại dưới dạng mệnh lệnh, đe dọa, thuyết phục hoặc là phối hợp giữa những hình thức trên.