Những lớp học với phần đông học trò là trai trẻ không còn là chuyện hiếm ở nhiều địa phương. Ảnh: NAM SƯƠNG "Tỷ số nóng" và những đặc thù ở Việt Nam Thực trạng mất cân bằng TSGTKS ở Việt Nam thật sự nóng lên từ năm 2006. Dù rằng khởi đầu muộn hơn các nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ khoảng 20 năm nhưng tốc độ gia tăng TSGTKS ở Việt Nam nhanh hơn rất nhiều. Bình quân tốc độ gia tăng TSGTKS hằng năm của các nước trên đây chỉ từ 0,4% đến 0,5%, nhưng ở Việt Nam ngay từ những năm trước nhất xuất hiện thực trạng này, tốc độ gia tăng TSGTKS đã lên cao bất thường, từ 1% đến 1,5%. Quy luật gia tăng TSGTKS ở Việt Nam cũng giống các nước khác, đó là xuất hiện vào tuổi xã hội nở rộ các dịch vụ siêu âm, mở mang các dịch vụ hành nghề y tế tư nhân và thuận lợi, dễ dàng trong nạo phá thai. Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam có những nét đặc thù khác với các nước trong khu vực, đó là ở Việt Nam hiện tượng này cao ngay từ lần sinh đầu tiên, chứng tỏ các bà mẹ đã lựa chọn giới tính ngay từ lần sinh đầu. Đặc biệt, tình trạng mất thăng bằng TSGTKS diễn ra nghiêm trọng nhất ở nhóm kinh tế khá giả. Trong khi ở nhóm nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) TSGTKS ở mức bình thường là 105,2 thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm giàu nhất tình trạng mất thăng bằng TSGTKS lại rất nặng nề. Cụ thể, TSGTKS ở nhóm giàu là 111,7 và ở nhóm giàu nhất là 112,9. TSGTKS thấp nhất ở nhóm đàn bà không biết chữ (107) và tăng dần theo trình độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trình độ cao đẳng trở lên. Những đàn bà có trình độ học vấn cao biết chủ động sử dụng các biện pháp tránh thai và điều chỉnh số con mong muốn; những nữ giới này thường lại có điều kiện kinh tế tốt hơn để có thể chi trả dịch vụ chọn lựa giới tính trước sinh và họ thỏa mãn được cả hai đích: quy mô gia đình nhỏ và có con trai. Có ba nhóm căn do cốt lõi của việc gia tăng TSGTKS, đó là tâm lý chuộng con trai trong xã hội; ảnh hưởng từ giảm sinh và tác động của các yếu tố kinh tế, phúc lợi xã hội; Sự phát triển của các dịch vụ y tế đương đại, các điều kiện chẩn đoán giới tính trước sinh và phá thai chọn lựa giới tính. Tâm lý chuộng con trai dẫn đến nhu cầu lựa chọn giới tính trước sinh là hiện tượng phức tạp, tổng hợp các quan niệm truyền thống kế thừa từ quá khứ và các giá trị từng lớp đương đại nảy từ những chuyển đổi gần đây trong xã hội. Việt Nam cũng như một số nước châu Á, bị ảnh hưởng lớn bởi tư tưởng Nho giáo truyền thống với quan niệm con trai nối dõi tông đường,... Đã làm cho tâm lý ưa thích con trai trở thành mãnh liệt. Quan niệm "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" từ lâu đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi cá nhân chủ nghĩa, các cặp vợ chồng, gia đình và dòng tộc. Áp lực giảm sinh với khuyến cáo mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con cũng là căn do gián tiếp tác động đến thực trạng này. Để sinh ít con mà vẫn đảm bảo có con trai như mong muốn, các cặp vợ chồng chẳng thể vận dụng "quy luật dừng" là sinh đến khi nào có con trai mới thôi, nên họ đã dùng các dịch vụ tuyển lựa giới tính trước sinh nhằm đáp ứng được cả hai mục tiêu nói trên. Bên cạnh các chính sách ưu tiên đối với đàn bà chưa thật thỏa đáng thì chế độ an sinh xã hội bây chừ chưa đảm bảo, 70% dân số nước ta còn sống ở nông thôn, hầu hết không có lương hưu khi về già, rất cần sự săn sóc, thờ cúng của con cái mà theo quan niệm của từng lớp bây giờ, bổn phận đó cốt tử thuộc về con trai, bởi thế họ sẽ cảm thấy bất an khi chưa có con trai, bởi con trai là "giá trị bảo hiểm cho tuổi già". Hệ lụy sâu sắc Việc chọn lọc giới tính trước sinh phản chiếu tình trạng bất đồng đẳng giới sâu sắc. Việc gia tăng TSGTKS chẳng những không cải thiện được vị thế của người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng thêm sự bất đồng đẳng giới như: nhiều phụ nữ phải thành thân sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của đàn bà sẽ tăng cao, tình trạng bạo hành giới, mua dâm, mua bán phụ nữ sẽ gia tăng,... Nên chi TSGTKS được coi là một trong những chỉ báo quan trọng để đánh giá chừng độ bình đẳng giới. Ngoại giả, các nhà khoa học cũng lưu ý các nhà lập chính sách về các hệ lụy trong tương lai của tình trạng mất cân bằng giới tính. Rõ ràng là tình trạng thiếu hụt số con nít gái gần đây sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt phụ nữ ở quờ các nhóm tuổi trong tương lai. Cấu trúc dân số trong những thập kỷ tới sẽ mang dấu ấn của việc chọn lựa giới tính hiện tại, tạo nên một tình trạng nhân khẩu - xã hội chưa từng có tiền lệ với quy mô dân số nam vượt trội trong một thời kì dài. Theo các nhà khoa học xã hội, tác động chính của hiện tượng mất thăng bằng giới tính sẽ can hệ tới quá trình hình thành và cấu trúc gia đình, đặc biệt là hệ thống hôn nhân. Nam giới trẻ tuổi sẽ bị dôi so với tỷ lệ nữ giới đang giảm dần trong cùng một thế hệ, và kết quả là họ có thể phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi lớp bạn đời. Sẽ diễn ra tình trạng trì hoãn hôn nhân trong nam giới hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân. Điều này sẽ tác động ngược lại truyền thống gia đình phụ hệ (theo họ cha) trong tương lai. Một tỷ lệ lớn nam giới độc thân sẽ không thể duy trì gia đình phụ hệ như trước đây. Những "kịch bản" cho mai sau Tác động nhân khẩu học của TSGTKS trong tương lai ở Việt Nam có thể diễn ra theo những kịch bản khác nhau: Kịch bản "Không can thiệp": TSGTKS toàn quốc sẽ lên đến 125 vào năm 2020 và vững chắc không dừng lại ở đó mà sẽ duy trì mức cao này đến năm 2050. Theo kịch bản này, đến năm 2050 sẽ dôi khoảng 4,3 triệu nam giới. Kịch bản "Quá độ": TSGTKS sẽ tăng lên khoảng 120 vào năm 2020 sau đó giảm dần và trở về mức 105 vào năm 2030. Kịch bản "Can thiệp tích cực": TSGTKS sẽ được kiểm soát ở mức cao nhất khoảng 115 vào năm 2020 sau đó khống chế, giảm dần và trở về mức 105 vào năm 2025. Trên thực tế, các tầng lớp hiện đại ở Đông Á đã chứng kiến sự cải thiện tình trạng bất đồng đẳng giới trong những thập kỷ vừa qua. Ví dụ như Nhật Bản, dù rằng vẫn còn những sự khác biệt cố hữu giữa nam giới và đàn bà trong nhiều lĩnh vực kinh tế và từng lớp, nhưng điều kiện của phụ nữ đã dần được cải thiện trong 50 năm qua thông qua các dịp giáo dục và việc làm. Hàn Quốc là quốc gia có sự gia tăng TSGTKS chóng vánh trong những năm 1980 cũng có những cải thiện hao hao. Để làm giảm tình trạng mất cân bằng TSGTKS, chúng ta phải tiến hành đồng bộ các giải pháp: từ truyền thông chuyển đổi hành vi, các giải pháp về kinh tế như chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, bảo đảm an sinh từng lớp,... Đến việc xử lý các vi phạm theo quy định của luật pháp. Tuy nhiên, theo chúng tôi, bản tính của công tác DS-KHHGĐ nói chung, can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính nói riêng, như Đảng ta đã khẳng định, là một "cuộc vận động lớn". Nên, giải pháp truyền thông chuyển đổi hành vi trong đó có việc tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục người dân thấy hết được nguy cơ của việc mất cân bằng TSGTKS để mọi người tự giác thực hành, không dự vào quá trình tuyển lựa trước sinh mới thật sự mang lại hiệu quả bền vững. * Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ thông qua tại Quyết định số 2013 ngày 14-11-2011 đã lựa chọn phương án "can thiệp hăng hái" với đích: "Tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ lọt lòng gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020".
TS LÊ CẢNH NHẠC |