Thuyền trưởng Robert Bartlett tỉnh giấc bởi một âm thanh sắc lạnh của tiếng nứt, giống như tiếng súng nổ. Con tàu của ông đang chìm dần. “Tôi nghe tiếng nứt vỡ, tiếng cụng...” Ông viết lại sau này. “Cả con tàu rung lắc rất mạnh.”
Một trăm năm trước, 31 người trên con tàu Karluk, đã phát xuất từ Canada ra khơi với nhìn tầng và chinh phục vùng đất Bắc Cực trong một chuyến thám hiểm đi vào lịch sử. Nhưng khi một tảng băng lớn va phải tàu của họ, những nhà thám hiểm bắt đầu phải sang cuộc chiến vô vọng cho sự sống kéo dài cả năm trời. Đây là câu chuyện lịch sử gợi nhớ tới một kỉ nguyên khi mà con người đánh đổi mạng sống để khám phá những ngóc ngách trên Trái Đất. Cho dù thiếu thốn những dụng cụ hiện đại viện trợ sự sống, không GPS, không dự báo thời tiết và không điện thoại, họ đã dũng cảm đi theo tiếng gọi của niềm mê say khám phá những vùng đất chưa có dấu chân người. Một vài nhà thám hiểm trong số đó đã bỏ mạng trong băng tuyết. Một số không bao giờ quay trở lại. Và một số - bất chấp đối diện với cái chết hàng ngày – vẫn chịu đựng những điều kiện không tưởng để sống sót. Đoàn thám hiểm xuất phát Cả đội bắt đầu chuyến đi vào tháng 6 năm 1913, với ba con tàu và vài chục người. Đích của đoàn thám hiểm là sẽ tìm hiểu Bắc Cực một cách cụ thể và chi tiết mà tới thời khắc bấy giờ đấy là điều chưa ai làm được. Họ xuất phát từ Esquimalt, gần Vancouver, Canada, đi vòng qua mũi Alaska. Đoàn thám hiểm được tài trợ bởi chính phủ Canada, nhiệm vụ của họ là chinh phục điểm cực của Bắc bán cầu, với coi mở rộng cương vực quốc gia tại những vùng đảo mới, tìm kiếm một con đường chuyển vận ở cầu Bắc và khai thác những vùng đất chưa được biết tới. Người chỉ huy cả đội thám hiểm là Vihjalmur Stefansson, 33 tuổi. Đây là một người đàn ông tham vọng và lạc quan. Stefansson thậm chí tự đặt cái tên “the friendly Arctic” (tạm dịch: Bắc cực thân thiện) cho vùng đất họ sắp tới để trình bày kiên tâm chinh phục của mình. Tuy nhiên, dựa vào những tài liệu sau này, có hai luồng quan điểm, một cho rằng Stefansson đã rời bỏ con tàu khi nó gặp nạn, hai là phủ nhận điều đó. Trong đội thám hiểm lúc bấy giờ, ngoài ra còn có Burt McConnell, là thư kí của Stefansson, 22 tuổi, người mà sau này dựa trên những bức thư ông viết cho người mình yêu, người ta có thể thu thập được nhiều tư liệu về chuyến đi lịch sử năm 1913 đó. Theo những bức thư của McConnell gửi bạn gái, ông thổ lộ một sự hồi hộp náo nức khi lên đường từ Nome, Alaska, vào ngày 13 tháng 7 năm 1913. Cũng theo ông, chuyến đi đó khởi hành vào một ngày đầy nắng, mang theo rất nhiều nhìn của mọi người.
Karluk – con tàu đánh cá và thám hiểm hàng đầu lúc bấy giờ - được mua với giá rất cao, trên thực tế có phần thiết kế thân tàu không đủ để chịu những lực va chạm của băng trôi. Không bao lâu sau khi rời khỏi bến cảng Alaska, con tàu chứng tỏ sự kém hiệu quả của nó. “Đó là một cảnh tượng kinh hoàng,” Bartlett viết sau này, “tảng băng cụt và nghiền nát từng mảnh xung quanh chúng tôi.” Bartlett vốn là một thuyền trưởng giỏi và giàu kinh nghiệm, 36 tuổi khi tham dự chuyến thám hiểm. Trước đó, ông đã có kinh nghiệm chỉ huy thành công một con tàu trong chuyến thám hiểm tới Cực Bắc. Vào khoảng giữa tháng Tám, con tàu Karluk bị kẹt giữa biển băng, không thể nào quay đầu lại hay đi tiếp. Vị trí của đoàn thám hiểm trên biển không mấy cách xa lục địa, nhưng lại cách xa nền văn minh cả trăm dặm. Họ có hai tuyển lựa: một là rời tàu, bỏ lại đống lương thực, coi và tìm đường lên bờ - hai là ở lại, với mùa đông đang đến, trên con tàu có thể chìm bất cứ lúc nào. Stefansson nói rằng sẽ không tự con tàu trừ khi bị ép buộc. Nhưng sau đó ông đã đưa ra một quyết định gây tranh luận. Mang theo Một vài con chó tốt nhất của đoàn thám hiểm, cùng với năm người đàn ông khác, bao gồm của McConnell, đi vào đất liền để từng thức ăn.
Con tàu sau đó bị phiêu lưu đi xa, và băng trôi, khiến cho nhóm của Stefansson không thể nào tìm lại con tàu. Trong suy nghĩ của Stefansson, ông chẳng thể làm gì với điều kiện ngày nay của con tàu, cho nên ông đi dọc theo bờ biển, với nhóm nhỏ của mình, để tìm gặp lại nửa kia của đội thám hiểm và hai con tàu khác. Nhưng về sau này Stefansson đoan với cả thế giới, trong một cuộc phỏng vấn với The New York Times, rằng ông không hề bỏ con tàu, “những thành viên trong đội thám hiểm không hề gặp hiểm nguy, thực phẩm trên tàu có thể cung cấp trong vòng 5 năm, cũng như trang bị đủ thiết bị để mọi người trở lại đất liền trong trường hợp cần lại tàu.” Có Karluk hay không có Karluk, ông nói, ông vẫn sẽ tiếp chuyện công việc của mình, và trong vòng vài tháng, ông đã khám phá bờ biển như đã lên kế hoạch. Thế nhưng trên thực tiễn, chuyến thám hiểm của Stefansson đi qua những vùng đất băng phủ không phải là “không có hiểm nguy nào” như lời ông nói. Sau khi Stefansson rời tàu, vào một buổi sáng, McConnell viết, “chúng tôi thấy mình lênh đênh trên một tảng băng rộng khoảng 6m”, và những người bị Stefansson bỏ lại bắt đầu đối diện với cái chết không lâu sau đó. Bị bỏ lại phía sau Còn lại trên con tàu Karluk là 14 thành viên, 6 nhà khoa học, 5 người Eskimo và 27 con chó. Họ đều còn rất trẻ, và ngoại trừ người Eskimo, rất ít trong số đó có kinh nghiệm sống trên băng. Thực phẩm họ mang theo đủ để sống trong vòng vài năm, và đều được vận chuyển lên trên băng trong trường hợp tàu bị chìm hoặc bị nghiền nát bởi băng trôi. Tuy nhiên, với điều kiện sức gió lên tới 60 mph, nhiệt độ dưới 0 độ F cả ngày, những người đàn ông trên tàu biết rằng họ đang bị cuốn đi càng ngày càng xa lục địa, và ngày đang ngắn dần đi. Tuy nhiên, cho dù đang trong nghịch cảnh thì người ta vẫn thấy được những phút chốc đáng nhớ của cả đoàn thám hiểm: tận hưởng vẻ đẹp của Quầng sáng phương Bắc, săn hải cẩu và gấu bắc cực, tổ chức giải đấu cờ vua, thậm chí là tổ chức tiệc Giáng sinh với những món ngon đóng hộp như lưỡi bò. Họ còn tổ chức một giải đấu bóng đá vào ngày đầu năm – cho dù trong trận đấu không có tiếng còi nào vang lên với lí do tiếng còi sẽ làm băng vỡ. Thế nhưng, khi màn đêm buông xuống, “nó toàn là một màu đen tuyệt vọng, với tiếng gió và tuyết rít lên trong không khí,” nhà khí tượng học William McKinlay viết. Những tiếng nứt vỡ và rung rinh không ngừng chứng tỏ một điều rằng “sự sống của chúng tôi đang trong tình thế hiểm nguy, và bất cứ lúc nào, bất cứ thời điểm nào, cũng có thể là phút giây cuối của chúng tôi.” Vào ngày 10 tháng 1 năm 1914, 5 tháng sau khi bị mắc kẹt, băng cuối cùng cũng va vào tàu Karluk. Buổi sáng sau khi nó chìm, theo thủy thủ Ernest Chafe, “nơi mà con tàu chìm hoàn toàn bị đóng băng và xóa sạch mọi dấu hiệu của con tàu.”
Giờ đây, những nhà thám hiểm buộc phải ngủ trong những căn lều dựng trên băng, họ không thể sử dụng túi ngủ được nữa, bởi vì nếu băng bị nứt, họ cần phải dùng tay để bơi lập tức. Một đêm, tảng băng trôi xuất hiện một vết nước rộng tới 0,8m ngay ở nơi dựng lều. “Chỉ trong vài giây,” McKinlay viết, “Dòng nước chồm tới nơi có hai người đang ngủ.” Những nhiệm vụ liều lĩnh Họ chẳng thể nào ở đó mãi: tảng băng sẽ tan khi mùa xuân tới, và họ sẽ bị cuốn ra đại dương, hàng trăm dặm về phía bắc Siberia. Họ cũng biết rằng không thể nào đợi được giải cứu, bởi vì không ai biết họ đang ở đâu và không con tàu nào có thể xâm nhập vào biển băng. Vùng đất gần nhất mà họ có thể tiếp cận cách đó khoảng một trăm dặm về phía nam: đảo Wrangel và khu dân cư nhỏ của đảo Herald. Sau vài tuần, một nhóm nhỏ tách ra để đi tìm đường tới hòn đảo. Chuyến đi này của họ đã gặp phải vô thiên lủng những chướng ngại: bão tuyết, lạnh cóng, quần áo ướt… Để đến điểm rút cục, bốn người đàn ông tách ra khỏi và giả bộ đi trước. Từ đó, họ không bao giờ xuất hiện nữa. Một nhóm bốn người thứ hai lại đấu lên đường để tìm đường tới đảo, lần này là làm trái ý thuyền trưởng. Họ được trao phần thực phẩm và đồ dùng của mình, nhưng theo một người tên John Hadley, Bartlett đã khước từ cung cấp cho họ phần quan trọng nhất. “Không có con chó nào hết,” thuyền trưởng nói. “Nếu như các anh bỏ chúng tôi, các anh phải tự mình thay thế những con chó.” Nhưng ngay cả khi buộc phải tự mình kéo xe, cả bốn vẫn quyết định đi tìm nhịp hơn là chờ đợi. Mười ngày sau, một trong những người của thuyền trưởng – trở về từ nhóm khởi hành trước tiên – gặp nhóm thứ hai này và thấy họ đang vật lộn vô cùng khổ sở. Nhà nhân chủng học Henri Beuchat, bị kẹt lại phía sau và gần như đóng băng cho đến chết. Cả bốn người đó cũng không bao giờ xuất hiện trở lại.
Dẫu vậy, điều độc nhất cả nhóm người còn lại quyết định làm là tìm đường tới lục địa, mang theo nhiều nhất số lương thực có thể. Vào ngày 24 tháng Hai, sau khi thức cả đêm để chuẩn bị, Bartlett ra lệnh cho cả đoàn chuyển di. Với những chiếc xe kéo nặng tới 360kg, những con chó kiệt lực, thời gian chiếu sáng ngắn ngủi, bão tuyết và những núi băng có thể đổ bất cứ lúc nào, từng dặm đường đều rất gian truân. Hiểm lớn nhất là nỗi lo lở băng. Một cặp nhà thám hiểm đi trước hò la dữ dội với nữa người bị ngâm trong nước lạnh. “Họ bắt đầu đi trên vùng băng mới hình thành và bị tụt xuống,” Hadley viết. “Ngày tiếp theo họ trở về mà gần như đã chết.” Một lần khác, một chiếc xe kéo trở lương thực và những đồ dùng cần thiết bị tụt xuống băng. Cho đến rốt cục, 8 con chó bị chết, khiến cho việc mang theo những chiếc xe kéo hết sức khó khăn. (Còn tiếp) |