Từ năm 2006, nhất là năm năm gần đây, hàng ngũ của IMS đã khai triển, thực hiện 20 đề tài cấp Nhà nước thuộc các chương trình khoa học và công nghệ trọng tâm, chương trình nghiên cứu căn bản định hướng vận dụng

Sản xuất nguyên liệu pô-li-me phục vụ sản xuất nông nghiệp tại Viện Hóa học.
Với sự cố kỉnh không ngừng trong nghiên cứu và sáng tạo, từ năm 2005 đến nay, đội ngũ cán bộ của IMS đã có hơn 200 công trình khoa học được công bố trên các tập san quốc tế có uy tín. Đồng thời, mở mang hoạt động nghiên cứu về công nghệ tuyển khoáng, công nghệ chế biến tinh khoáng sản để nâng cao giá trị mặt hàng xuất khẩu. Trong đó, phải kể đến các nguyên liệu xúc tác xử lý khí thải, vật liệu Aluwat xử lý nước sinh hoạt bị nhiễm ô-xít sắt; thiết bị lọc nước mặn thành nước ngọt bằng phương pháp thẩm thấu ngược phục vụ đời sống của người dân khu vực Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Riêng sản phẩm máy phát thủy điện nhỏ với ba loại công suất 200W, 500W và 1. Nhưng kết hợp ăn nhịp giữa nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực chất lượng cao và khai triển áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sinh sản, kinh dinh thì Viện Khoa học nguyên liệu (IMS) làm được nhiều việc hơn cả.
Ở mảng nguyên liệu truyền thống các nhóm nghiên cứu của IMS đi sâu phát triển các nghiên cứu về kim loại, hợp kim có tính năng đặc biệt (như siêu cứng, chịu mài mòn, chống chịu nhiệt độ cao). Biên chế ở 26 mối lái phòng, trọng điểm và doanh nghiệp, IMS tụ tập vào các lĩnh vực nguyên liệu và linh kiện điện tử, vật liệu và linh kiện quang học, quang điện tử và quang tử; vật liệu kim loại và nguyên liệu tổ hợp; vật liệu và công nghệ Na-nô; nguyên liệu có tính năng đặc biệt (siêu cứng, chịu mài mòn, chịu nhiệt độ cao).
GS, TS Nguyễn Quang Liêm, Viện trưởng IMS cho biết: Kể từ năm 2008, viện mở rộng lĩnh vực nghiên cứu, hình thành được một số nhóm khoa học khá mạnh, vừa nghiên cứu căn bản định hướng vận dụng, vừa trọng tổ chức khai triển và chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tại đời sống. NGUYỄN KHÔI. Với nguồn nhân công khoảng 300 người, trong đó có hơn 20 GS và PGS, ba TSKH, hơn 60 TS.
Từ đây, IMS đang thúc đẩy các hoạt động cần thiết để sớm thành lập một trọng tâm khoa học và công nghệ Na-nô tiền tiến đạt trình độ khu vực và quốc tế, theo chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam thời đoạn 2011 - 2020 như Thủ tướng Chính phủ đã chuẩn y.
Gần đây nhất (năm 2011 - 2012) IMS là đơn vị chủ trì dự án hợp tác quốc tế về kỹ thuật chiếu sáng tùng tiệm năng lượng được khai triển tại khá nhiều địa phương trong cả nước. Nghiên cứu về nguyên liệu truyền thống và vật liệu mới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) có các đơn vị như Viện Khoa học vật liệu vận dụng tại TP Hồ Chí Minh, Viện Hóa học, Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang cũng như một số khoa thuộc các Trường đại học Khoa học thiên nhiên, Đại học Bách khoa Hà Nội.
Phân viện khoa học vật liệu tại TP Hồ Chí Minh khoảng 10 năm trở lại đây, đã nghiên cứu thành công công nghệ chế tạo nhiều loại vật liệu ứng dụng có hiệu quả hoặc có triển vọng áp dụng rộng rãi.
Chả hạn như nghiên cứu cấu trúc, thuộc tính quang điện tử và quang tử, tính chất điện - từ của các loại vật liệu.
Đến nay, tuy chưa đạt được thành tựu lớn, song IMS đã chủ động nguồn mẫu cho nghiên cứu căn bản và các nghiên cứu định hướng ứng dụng trong nông - y - sinh vật học, năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường. Cùng với nghiên cứu căn bản, Viện đã hăng hái triển khai vận dụng các kết quả nghiên cứu vào sinh sản, kinh dinh. Đó là nghiên cứu, chế tạo nam châm đất hiếm NdFeB ứng dụng vào sản xuất máy phát thủy điện nhỏ và các máy tuyển từ được dùng khá rộng rãi trong công nghiệp sinh sản vật liệu ở nước ta.
Công nghệ Na-nô, một lĩnh vực còn non trẻ ở nước ta, nhưng viện đã đi tiên phong nghiên cứu cách đây hơn 10 năm do sự chủ xướng của GS, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu.
Mặt khác, IMS vinh diệu được Đảng, quốc gia hai lần trao tặng giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ cũng như nhiều giải VIFOTEC. Viện đã và đang thực hiện 51 đề tài nghiên cứu cơ bản thuộc quỹ phát triển khoa học - công nghệ quốc gia (NAFOSTED); gần 20 đề tài thuộc bảy hướng ưu tiên của VAST, và một số đề tài, dự án hợp tác quốc tế theo Nghị định thư.
000W không chỉ được sử dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Cạn, Lào Cai mà còn được một tổ chức nhân đạo quốc tế giao kèo sản xuất hàng nghìn máy để cung cấp cho các vùng khó khăn ở châu Á và châu Phi. Nhờ có phòng thí điểm trung tâm quốc gia về vật liệu và linh kiện điện tử (đầu tư 55 tỷ đồng), IMS triển khai, thực hiện các nghiên cứu về vật liệu mới, nguyên liệu tiên tiến mà trong nước và thế giới quan tâm.
Đặc biệt, tro bay (làm phụ gia) được nghiên cứu, sinh sản từ xỉ than thải của các nhà máy nhiệt điện của IMS đã phục vụ thiết thực cho xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên sông Đà.
Nhất là quan tâm việc tìm ra vật liệu hấp phụ cấu trúc Na-nô để xử lý ô nhiễm nước sinh hoạt, vật liệu xúc tác Na-nô hoạt động ở vùng nhiệt độ thấp dùng xử lý ô nhiễm môi trường khí.